Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn Lao động. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lao động. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014

Cần chọn phương thức phù hợp

Địa ngục lao dong luôn cần được nâng cao tri thức luật pháp ( ảnh mang tính minh họa ). Ảnh: L.Nguyên. ( LĐ ) - do vậy , tổ chức công đoàn đang cố gắng đẩy mạnh Công việc tuyên truyền , phổ quát luật pháp tại khu vực này.Luật nào cũng biết , nhưng chỉ "thưa thốt"Tại Hưng Yên đã có 350 dự án đi vào hoạt động , trải khắp trên cả 10 huyện , TP trong tỉnh. Tình hình thực thi luật pháp nhìn chung , trong CNLĐ nói riêng còn nhiều vấn đề cần giải quyết , trong đó tình trạng vi phạm pháp luật LĐ , mất dân chủ ở một số cơ sở đã và đang là trở lực nhất mực đối với sự phát triển KT-XH tại địa phương. Theo đại diện LĐLĐ Hưng Yên , nhiều căn nguyên dẫn tới tình trạng này , trong đó có việc người sử dụng LĐ không tạo hoàn cảnh , không dành thời kì cho Công việc tuyên truyền luật pháp lao động , NLĐ không chịu đọc tài liệu , nghiên cứu về luật pháp lao dong. Hiện , đối với CNLĐ , chuyện trò vui thì luật nào cũng biết , nhưng khi lợi ích bị xâm phạm thì không hộ thân được mình vì không nắm vững bất kỳ một điều luật nào. Còn ở Hải Dương , từ năm 2003 - 2008 xảy ra 50 vụ ngừng việc tập thể với hơn 32.184 lượt người tham dự , có những DN xảy ra đình công tự phát lặp đi lặp lại gây thiệt hại đáng kể cho cả chủ DN và NLĐ. Căn nguyên của các vụ đình công trái luật pháp nói trên vẫn là do chủ DN vi phạm Luật LĐ , Luật CĐ và do NLĐ thiếu am hiểu pháp luật.Từ thực trạng trên cho thấy , tham vấn luật pháp là nhu cầu chẳng thể thiếu được đối với NLĐ và người sử dụng LĐ. Tuy nhiên , khi thảo luận về khu vực này , đại diện LĐLĐ TP.Hải Phòng chính trực nhận xét: Đối với CNLĐ trong DN dân doanh và DN FDI , việc tuyên truyền , phổ quát luật pháp còn là khâu yếu. Yếu bởi đây là nơi tập trung LĐ trẻ , chủ yếu Thân phận từ LĐ nông nghiệp , trình độ văn hóa thấp , ý thức lập nghiệp yếu , kém thông hiểu pháp luật; yếu vì bộ máy tổ chức CĐ tại khu vực này còn mỏng , vị thế của CĐ chưa thực sự được chú trọng , cơ chế hoạt động chưa đồng nhất; yếu vì phương thức tuyên truyền , giáo dục còn nhiều lúng túng.Tìm phương thức phù hợpNhững địa phương có đông các DN dân doanh , DN FDI với số lượng CNLĐ mà đa phần là CNLĐ trẻ như Hà Nội , Hải Dương , Hải Phòng , Đà Nẵng , TPHCM , Bình Dương , Đồng Nai đều có cách làm riêng trong tuyên truyền , phổ quát luật pháp. Nhưng , thực sự mà nói , kết quả chưa đúng như mong ước bản thân. Trong khu vực kinh tế ngoài quốc gia , số CNLĐ trẻ ở Hà Nội chiếm tới 60% , tổ chức CĐ sử dụng nhiều hình thức đưa tri thức luật pháp đến với họ , gồm tuyên truyền miệng; tài liệu bỏ túi; bảng tin , loa truyền thanh tại DN... Theo CB CĐ Hà Nội , tuyên truyền khẩu có điểm trội hơn tuyên truyền trực tiếp tới CNLĐ , có khả năng đối thoại và phúc đáp ngay những vấn đề mà CNLĐ còn vướng mắc hoặc chưa thông hiểu , nhưng lại nước phụ thuộc vào sự đồng thuận của người sử dụng LĐ để Xếp đặt thời kì , cho CNLĐ tham dự và đặc biệt phải có đội ngũ thông tin viên có trình độ , đáp ứng đề nghị người nghe. Còn với tờ gấp , tờ gấp , tài liệu bỏ túi thì bản thân những người làm thuê tác tuyên truyền cũng ý rằng tài liệu thường dài , nhiều nội dung. Trong khi đó , CNLĐ chịu áp lực về thời kì làm việc rất lớn , họ thích hoặc ước một điều gì đó với sự sửa đổi của luật này họ được quyền gì , nghĩa vụ ra sao...Hiện Tổng LĐLĐVN đang xây dựng bộ tài liệu tuyên truyền , phổ quát luật pháp cho CNLĐ trong các DN dân doanh và DN FDI với 4 cuốn sách bỏ túi được soạn thảo theo nội dung luật pháp LĐ , luật pháp CĐ , BHXH , BHYT. Có những quan điểm ý rằng tài liệu này không nên biểu lộ dưới dạng hỏi - đáp , mà đi theo từng chế định cụ thể như tiền lương , HĐLĐ và nên có 2 loại sổ tay - một dành cho CB CĐ , một dành cho CNLĐ. Sự khác nhau nằm ở chỗ tài liệu cho CB CĐ chi tiết hơn và có trích dẫn nguồn tài liệu ( chương , điều khoản ) , còn với CNLĐ nội dung ngắn gọn , chỉ đi vào những nội dung thực sự cần thiết , không cần trích dẫn nguồn... Tuy nhiên , ngoài hình thức , nội dung của tài liệu và phương thức tuyên truyền , phổ quát luật pháp , nhiều CB CĐ còn đang rất băn khoăn , đồng thời đề nghị cần đầu tư xây dựng yên ổn màng lưới tuyên truyền viên luật pháp tại cơ sở cả về số lượng lẫn chất lượng.Trao đổi với đại diện LĐLĐ một số địa phương , TS Hoàng Ngọc Thanh - Phó chủ tịch Tổng LĐLĐVN - cho biết: Đánh giá đúng tầm quan yếu và tính cấp thiết của việc tuyên truyền , phổ quát , giáo dục luật pháp cho CNLĐ trong các DN dân doanh và DN FDI , Thủ tướng Chính phủ đã có QĐ 31/2009/QĐ-TTg về việc phê chuẩn dự án tuyên truyền , phổ quát , giáo dục luật pháp cho NLĐ và người sử dụng LĐ trong các loại hình DN từ 2009-2012. Theo đó , Tổng LĐLĐVN chủ trì thực hành Tiểu dự án 3: Tuyên truyền , phổ quát luật pháp LĐ , luật pháp CĐ và các quy định luật pháp liên đái cho NLĐ tại các DN dân doanh và DN FDI. Hiện Tổng LĐLĐVN đang khai triển thực hành dự án với 5 nhiệm vụ trọng tâm. L.Nguyên lược ghi Linh Nguyên
.

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

'Tăng lương cải thiện một phần cuộc sống'

Thưa bà , cụ thể việc điều chỉnh lương sắp tới như thế nào?Nghị định 107 và 108 của Chính phủ vừa ban hành chỉ điều chỉnh mức lương tối thiểu trong các doanh nghiệp , chứ không nên hiểu là tăng lương trong các doanh nghiệp. Năm triều vua Trung Hoa tối thiểu được hiểu là mức lương thấp nhất phải trả cho người lao đông ( chưa qua đào tạo , làm mướn việc đơn giản nhất và trong điều kiện lao động bình thường , không vất vả ) và không được phép trả thấp hơn. Còn việc điều chỉnh lương cho nhân viên , nhân viên vào ngày 1 – 5 – 2011 thì theo tôi , chỉ một phần cải thiện Chỗ ở , vì giá cả đang tăng.Mức lương tối thiểu vùng IV , chỉ là 830 nghìn/tháng với doanh nghiệp Việt Nam và 1 triệu 100 nghìn/tháng với các doanh nghiệp có vốn đầu tư ngoại bang , liệu có đảm bảo cuộc sống cho người công nhân , trong điều kiện giá tăng như hiện nay?Thường , các doanh nghiệp sẽ trả lương cao hơn mức đó. Năm triều vua Trung Hoa tối thiểu đặt ra để điều chỉnh các mức lương khác. Việc trả lương sẽ chứng cứ vào thị trường lao động. Nếu công việc khó , chỉ ít người làm được thì vững chắc không thể trả lương thấp...Tổ chức Công đoàn – đại diện cho người lao động – phải dự khán vào việc xây dựng chính sách tiền lương.Nhưng ngày nay , tổ chức công đoàn nhiều nơi vẫn chưa thật sự phát huy vai trò của mình để gác canh người lao động?Công đoàn cần nắm chắc pháp luật , tích cực dự khán xây dựng Chế độ trả lương , nội quy lao động , nâng bậc , nâng lương... Cho người lao động. Mặt khác , cần Chỉ chung các sinh vật nhân viên làm việc công hiệu , đúng pháp luật...Mỗi lần chuẩn bị tăng lương , giá cả ngoài thị trường lại “nhích” lên. Bà có nghĩ , việc tăng lương không theo kịp tăng giá?Giá cả bên ngoài tăng không phải do tăng lương. Ví dự ở thời điểm này , đã tăng lương đâu mà giá vẫn tăng. Giá tăng có nguyên nhân ở tỷ giá , giá vàng , nguồn cung hàng , tâm lý... Có những việc như húi tóc chẳng hạn , chả liên hệ gì đến vàng hay USD , mà vẫn tăng giá.Cám ơn bà!Chi tiết việc điều chỉnh lươngTheo Nghị định 108 của Chính phủ , ban hành ngày 29 - 10 -2010:Điều 1. Đối tượng và phạm vi áp dụngNghị định này quy chỉ tiêu lương tối thiểu vùng vận dụng đối với người lao động làm việc ở nể ty , doanh nghiệp , hợp tác xã , tổ hợp tác , nông trại , hộ Nhà ở , cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động , gồm:1. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.2. Doanh nghiệp thành lập , tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp ( không bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư ngoại bang ).3. Hợp tác xã , liên hiệp hợp tác xã , tổ hợp tác , nông trại , hộ Nhà ở , cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.Điều 2. Mức lương tối thiểu vùng1. Mức 1.350.000 đồng/tháng vận dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.2. Mức 1.200.000 đồng/tháng vận dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II.3. Mức 1.050.000 đồng/tháng vận dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III.4. Mức 830.000 đồng/tháng vận dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên các địa bàn thuộc vùng IV.Điều 6. Công dụng thi hành1. Mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 2 Nghị định này được vận dụng như sau:a ) Các địa bàn quy định tại Phụ lục I kèm theo Nghị định này thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2011.b ) Các địa bàn được điều chỉnh vùng vận dụng mức lương tối thiểu vùng quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.2. Huỷ bỏ Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ quy chỉ tiêu lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở nể ty , doanh nghiệp , hợp tác xã , tổ hợp tác , nông trại , hộ Nhà ở , cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.3. Công ty mẹ - tập đoàn kinh tế nhà nước trong thời gian chưa xây dựng được hệ thống thang lương , bảng lương theo quy định tại Nghị định số 101/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về thí điểm thành lập , tổ chức , hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước , công ty nhà nước chưa chuyển đổi Thành tựu ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên , các tổ chức , đơn vị hiện đang vận dụng chế độ lương lậu như công ty nhà nước tiếp vận dụng hệ số điều chỉnh lương lậu gia tăng so với mức lương tối thiểu chung để xác định đơn giá lương lậu , quỹ lương lậu của Hội đồng quản trị ( hoặc Hội đồng thành viên ) , tổng giám đốc ( Giám đốc ) quy định tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP , Nghị định số 206/2004/NĐ-CP , Nghị định số 207/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 , Nghị định số 141/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2007 và Nghị định số 28/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ cho đến khi Chính phủ có quy định mới.Theo Nghị định 107 của Chính phủ , ban hành ngày 29 - 10 -2010:Điều 1. Mức lương tối thiểu vùngMức lương tối thiểu vùng để trả công đối với lao động Việt Nam làm mướn việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường cho doanh nghiệp có vốn đầu tư ngoại bang , cơ quan , tổ chức ngoại bang , tổ chức quốc tế và cá nhân người ngoại bang tại Việt Nam ( sau đây gọi chung là doanh nghiệp ) theo vùng như sau:1. Mức 1.550.000 đồng/tháng vận dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.2. Mức 1.350.000 đồng/tháng vận dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II.3. Mức 1.170.000 đồng/tháng vận dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III.4. Mức 1.100.000 đồng/tháng vận dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV.Điều 3. Vận dụng mức lương tối thiểu vùng 1. Mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 1 Nghị định này được dùng làm chứng cứ tính các mức lương trong thang lương , bảng lương , các loại phụ cấp lương , tính các mức lương ghi trong hợp đồng lao động , thực hiện các chế độ khác do doanh nghiệp xây dựng và ban hành theo thẩm quyền do pháp luật lao động quy định.2. Mức lương lậu thấp nhất trả cho người lao động đã qua học nghề ( kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề ) phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 1 Nghị định này.3. Khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện mức lương tối thiểu cao hơn mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 1 Nghị định này.4. Chứng cứ mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 1 Nghị định này , doanh nghiệp điều chỉnh lại lương lậu trong hợp đồng lao động cho phù hợp.PHỤ LỤC IDANH MỤC ĐỊA BÀN vận dụng MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG TỪ NGÀY 01 THÁNG 01 NĂM 2011( Ban hành kèm theo Nghị định số 107/2010/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2010 của Chính phủ )1. Vùng I , gồm các địa bàn:- Các quận thuộc đô thị Hà Nội;- Các quận thuộc đô thị Hồ Chí Minh.2. Vùng II , gồm các địa bàn:- Các huyện Gia Lâm , Đông Anh , Sóc Sơn , Thanh Trì , Từ Liêm , Thường Tín , Hoài Đức , Đan Phượng , Thạch Thất , Quốc Oai , Mê Linh , Chương Mỹ và thị xã Sơn Tây thuộc đô thị Hà Nội; - Các quận và các huyện Thủy Nguyên , An Dương , An Lão , Vĩnh Bảo thuộc đô thị Hải Phòng;- đô thị Hải Dương thuộc tỉnh Hải Dương;- đô thị Vĩnh Yên , thị xã Phúc Yên và huyện Bình Xuyên thuộc tỉnh Vĩnh Phúc;- đô thị Bắc Ninh , thị xã Từ Sơn và các huyện Quế Võ , Tiên Du , Yên Phong thuộc tỉnh Bắc Ninh;- Các đô thị Hạ Long , Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh;- đô thị Thái Nguyên thuộc tỉnh Thái Nguyên;- đô thị Việt Trì thuộc tỉnh Phú Thọ;- đô thị Ninh Bình thuộc tỉnh Ninh Bình;- đô thị Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế;- Các quận , huyện thuộc đô thị Đà Nẵng;- đô thị Nha Trang và thị xã Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa;- Các đô thị Đà Lạt , Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng;- đô thị Phan Thiết thuộc tỉnh Bình Thuận;- Các huyện thuộc đô thị Hồ Chí Minh;- đô thị Biên Hòa , thị xã Long Khánh và các huyện Nhơn Trạch , Long Thành , vĩnh viễn , Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai;- Thị xã Thủ Dầu Một và các huyện Thuận An , Dĩ An , Bến Cát , Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương;- đô thị Vũng Tàu , thị xã Bà Rịa và huyện Tân Thành thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;- đô thị Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang;- Các quận thuộc đô thị Cần Thơ;- đô thị Rạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang;- đô thị Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang;- đô thị Cà Mau thuộc tỉnh Cà Mau.3. Vùng III , gồm các địa bàn:- Các đô thị trực thuộc tỉnh còn lại ( trừ các đô thị trực thuộc tỉnh nêu tại vùng II );- Các huyện còn lại thuộc đô thị Hà Nội;- Các huyện còn lại thuộc đô thị Hải Phòng;- Thị xã Chí Linh và các huyện Cẩm Giàng , Nam Sách , Kim Thành , Kinh Môn , Gia Lộc , Bình Giang , Tứ Kỳ thuộc tỉnh Hải Dương;- Các huyện Yên Lạc , Vĩnh Tường , Tam Đảo , Tam Dương , Lập Thạch , Sông Lô thuộc tỉnh Vĩnh Phúc;- Các huyện Phù Ninh , Lâm Thao thuộc tỉnh Phú Thọ;- Các huyện Gia Bình , Thuận Thành , Lương Tài thuộc tỉnh Bắc Ninh;- Các huyện Việt Yên , Yên Dũng , Hiệp Hòa thuộc tỉnh Bắc Giang;- Các thị xã Uông Bí , Cẩm Phả và các huyện Hoành Bồ , Đông Triều thuộc tỉnh Quảng Ninh;- Các huyện Mỹ Hào , Văn Lâm , Văn Giang , Yên Mỹ thuộc tỉnh Hưng Yên;- Thị xã Sông Công và các huyện Phổ Yên , Phú Bình , Phú Lương , Đồng Hỷ , đại từ thuộc tỉnh Thái Nguyên;- Huyện Mỹ Lộc thuộc tỉnh Nam Định;- Các huyện Duy Tiên , Kim Bảng thuộc tỉnh Hà Nam;- Thị xã Tam Điệp và các huyện Gia Viễn , Yên Khánh , Hoa Lư thuộc tỉnh Ninh Bình;- Thị xã Bỉm Sơn và huyện Tĩnh Gia thuộc tỉnh Thanh Hóa;- Huyện Kỳ Anh thuộc tỉnh Hà Tĩnh;- Thị xã Hương Thủy và các huyện Hương Trà , Phú Lộc , Phong Điền , Quảng Điền , Phú Vang thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế;- Các huyện Điện Bàn , Đại Lộc , Duy Xuyên , Núi Thành thuộc tỉnh Quảng Nam;- Các huyện Bình Sơn , Sơn Tịnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi;- Thị xã Sông Cầu thuộc tỉnh Phú Yên;- Các huyện Cam Lâm , Diên Khánh , Ninh Hòa , Vạn Ninh thuộc tỉnh Khánh Hòa;- Các huyện Ninh Hải , Thuận Bắc thuộc tỉnh Ninh Thuận;- Các huyện Đức Trọng , Di Linh thuộc tỉnh Lâm Đồng;- Thị xã La Gi và các huyện Hàm Thuận Bắc , Hàm Thuận Nam thuộc tỉnh Bình Thuận;- Các huyện Trảng Bàng , Gò Dầu thuộc tỉnh Tây Ninh;- Các thị xã Đồng Xoài , Phước Long , Bình Long và các huyện Chơn Thành , Đồng Phú thuộc tỉnh Bình Phước;- Các huyện còn lại thuộc tỉnh Đồng Nai;- Các huyện còn lại thuộc tỉnh Bình Dương;- Các huyện Long Điền , Đất Đỏ , Xuyên Mộc , Châu Đức , Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.- Các huyện Thủ Thừa , Đức Hòa , Bến Lức , Cần Đước , Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An;- Thị xã Gò Công và huyện Châu Thành thuộc tỉnh Tiền Giang;- Huyện Châu Thành thuộc tỉnh Bến Tre;- Các huyện bình minh , Long Hồ thuộc tỉnh Vĩnh Long;- Các huyện thuộc đô thị Cần Thơ;- Thị xã Hà Tiên và các huyện Kiên Lương , Phú Quốc , Kiên Hải , Giang Thành , Châu Thành thuộc tỉnh Kiên Giang;- Các thị xã Châu Đốc , Tân Châu thuộc tỉnh An Giang;- Thị xã Ngã Bảy và các huyện Châu Thành , Châu Thành A thuộc tỉnh Hậu Giang;- Các huyện Năm Căn , Cái Nước , U Minh , Trần Văn Thời thuộc tỉnh Cà Mau.4. Vùng IV , gồm các địa bàn còn lại.PHỤ LỤC IIDANH MỤC ĐỊA BÀN ĐƯỢC điều chỉnh vận dụng MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG TỪ NGÀY 01 THÁNG 07 NĂM 2011( Ban hành kèm theo Nghị định số 107/2010/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2010 của Chính phủ )1. Vùng I , gồm các địa bàn:- Các huyện Củ Chi , Hóc Môn , Bình Chánh , Nhà Bè thuộc đô thị Hồ Chí Minh;- đô thị Biên Hòa và các huyện Nhơn Trạch , Long Thành , vĩnh viễn , Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai;- Thị xã Thủ Dầu Một và các huyện Thuận An , Dĩ An , Bến Cát , Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương;- đô thị Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.2. Vùng II , gồm các địa bàn:- Các huyện Định Quán , Xuân Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai;- Các huyện Phú Giáo , Dầu Tiếng thuộc tỉnh Bình Dương;- đô thị Tân An và các huyện Đức Hòa , Bến Lức , Cần Đước , Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An.3. Vùng III , gồm các địa bàn: các huyện Thủ Thừa , Đức Huệ , Châu Thành , Tân Trụ thuộc tỉnh Long An.

Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

Thiên cư lao động và những hệ lụy

Mỗi năm TP HCM đón hàng nghìn công nhân , lao động từ nông thôn đổ về làm việc. Trong đó , không ít lao động kéo theo cả người thân đi kèm khiến cho sức ép trong việc đảm bảo các chính sách an sinh tầng lớp của đô thị ngày càng đè nặng.Theo liên đoàn lao động TP.HCM mỗi năm đô thị phải như hàng chục tỷ đồng để chăm lo Chỗ ở cho lao động. Tuy nhiên con số này sẽ không cố ý nghĩa khi người lao động ( NLĐ ) phải chăm lo cho người phụ thuộc.Gánh nặng Vào TP.HCM làm việc và lập Nhà ở được 10 năm nay , chị Phạm Thị Hiền cùng chồng vẫn không hết những nỗi lo cơm áo Ngày ngày. Nhất là từ khi đứa nam tử của anh chị quyết định theo ba mẹ vào đô thị sống. Ngày ngày hai phu phụ đi làm nhưng vẫn không an tâm khi để con ở nhà đơn thân. “Trước đây mình gửi cháu cho ông bà ngoại ở quê , nhưng giờ ông đã mất , bà thì sang ở với cô em gái nên phải đưa con vào đây. Vì chưa quen với cuộc sống ở đô thị nên mình chưa dám cho cháu đi học. Phu phụ cũng phải tăng ca nhiều hơn để có tiền xin cho cháu học ở đây , nhưng cũng chưa biết có lo nổi không , vì nghe mấy chị cùng công ty bảo học ở đô thị phải đóng nhiều khoản lắm” , chị Hiền tâm tình. Nhiều tử đệ CN , LĐ không được đi học vì thiếu nhà giữ trẻ.Tại khu chế xuất Linh Trung 1 ( Q.Thủ Đức ) không khó để bắt gặp nhiều con nít lang thang đi bán vé số dạo hay giong ruổi trên những tuyến đường tấp nập xe cộ. Trong số đó có không ít đưa trẻ là tử đệ của các công nhân vào đô thị cùng cha mẹ mưu sinh. Bùi Nhất Minh , 14 tuổi , mỗi chiều tranh thủ thời gian lúc mẹ tăng ca về ra khu đất hẹp cuối khu phố thả diều cùng các bạn. Minh cho biết: “Cháu mới vào đây sống với ba mẹ được một năm nay , ba mẹ không đủ tiền để cho cháu đi học nên hiện Ngày ngày cháu đi bán vé số dạo , tối về cơm cháo cho ba mẹ. Ở đây cháu không có bạn nhiều nên buồn lắm!”. Anh Bùi Văn Sơn , ba của Minh cho biết : “Vợ chồng mình đều làm mướn nhân ( CN ) nên cuộc sống khó khăn lắm , năm rồi Nhà ở ở quê có việc nên phải dồn tiền gửi hồi trang lo lường , rồi phải đưa con vào. Nhưng chưa thể cho cháu đi học vì không có điều kiện”. Hậu quả khó lườngCuộc sống khó khăn , gánh nặng về cơm áo , chỗ đối xử và sự Tháng không đủ ăn đem động vật đã đẩy những người phụ thuộc trong đó đa phần là tử đệ của những CN , LĐ đối mặt với nhiều nguy cơ từ tầng lớp. Theo thống kê từ trung tâm tương trợ tầng lớp Tân Hiệp ( Sở LĐTB XH TP.HCM ) mỗi tháng đơn vị này tiếp thu từ 20-30 trường hợp con nít lang thang. Trong số đó có gần một nửa là tử đệ của CN , LĐ. Hầu hết những con nít này đều không được đi học , một số em phải nghỉ học giữa chừng , số thì lang thang tìm việc trên nhiều tuyến đường. Lưu Văn Nghĩa , 13 tuổi , quê ở Sóc Trăng , bị đưa vào trung tâm bảo trợ tầng lớp Tân Hiệp ( Q.Bình Thạnh ) tâm sự: “Bố mẹ em làm CN phải tăng ca suốt , em từ quê lên đây ở nhà mãi không biết làm gì nên em đi bán vé số dạo để phụ giúp cha mẹ. Do em ngủ quên ở nể viên nên bị các chú bắt vào đây”. Riêng trường hợp của em Đào văn Lộc ( quê Nghệ An ) thì bị bắt vì đi ăn mày tại cổng chùa. Ông Nguyễn thản bạch , Giám đốc trung tâm tầng lớp TP.HCM cho biết: “Nhiều trường hợp các em bị đưa vào đây đều Xin từ thức được Bắt đầu làm mình làm. Có em do tình cảnh khó khăn muốn phụ giúp ba mẹ nên đã Bắt đầu làm sai lầm gây hậu quả cho xã hội”. Anh Đoàn Văn Ngọc , CN công ty Nissei Electric VN ( KCX Linh Trung ) bộc bạch: “Vợ chồng mình đều không có hộ khẩu ở đô thị , việc xin cho con đi học vì thế cũng gặp nhiều khó khăn. Vì nhà trẻ nào cũng đã quá tải nên đến giờ con mình dù đã được 4 tuổi vẫn chưa đi nhà trẻ”. Thống kê của LĐLĐ TP.HCM chỉ riêng trong năm nay , đơn vị này đã quyên góp trên 73 tỷ đồng để chăm lo Chỗ ở cho người lao động. Nhưng con số này sẽ là không bao giờ đủ khi tình trạng di cư lao động kéo theo tỷ lệ người phụ thuộc đổ về đô thị ngày càng nhiều. ĐANG ĐỌC NHIỀU: . Nhiều tử đệ CN , LĐ không được đi học vì thiếu nhà giữ trẻ. ĐANG ĐỌC NHIỀU: .

Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2014

Người lao dong cần chủ động canh giữ mình

Tai tồi lao động tai hại vẫn tiếp kiến tăng thêm - là thực trạng được ông Vũ Như Văn , Quyền Cục trưởng Cục không có các mối nguy hiểm hoặc rủi ro lao động , Bộ LĐ -TB&XH đưa ra tại Hội nghị tổng kết 4 năm thực hành tiêu chuẩn quốc gia về bảo hộ lao động , không có các mối nguy hiểm hoặc rủi ro lao dong , vệ sinh lao dong ( 2006- 2010 ).Cụ thể , theo report của các Sở LĐ- TB&XH , giai đoạn 2006- 2009 , nhàng nhàng mỗi năm , cả nước xảy ra 5.972 vụ tai nạn lao động , trong đó có 506 vụ gây chết người. Đổ đồng số vụ tai tồi lao động tai hại gây chết người tăng 2 , 45%/năm. Tuy nhiên , theo ông Vũ Như Văn , trên thực tiễn các số liệu này còn cao hơn nhiều do nhiều trường hợp tai nạn lao động bị doanh nghiệp giấu giếm , không khai báo. Tai tồi lao động có xác xuất xảy ra vô luận lúc nàoKết quả khảo sát cũng cho thấy , tai tồi lao dong tai hại thường xảy ra ở những nơi có nhiều khu công nghiệp , doanh nghiệp khai khẩn mỏ và xây dựng. Điển hình như TP Hồ Chí Minh năm 2010 đã xảy ra 52 vụ làm 56 người chết; Bình Dương 18 vụ , 24 người chết; Hà Nội 22 vụ , 24 người chết; Hải Phòng 14 vụ , 17 người chết… Trong đó , phân tích số liệu tai nạn lao dong chết người theo nhân tố gây chấn thương thì số người chết do ngã cao chiếm tỉ lệ 21 , 48%; tai nạn do vật rơi , dập vùi chiếm 20 , 81%; do bị vấp váp , va đập hoặc kẹp mắc giữa vật thể , máy thiết bị cán - kẹp - cuốn chiếm 16 , 78%; do bị văng bắn và bị bỏng từ những vụ nổ thiết bị áp lực , nổ vật liệu nổ và các loại hóa chất xăng dầu chiếm 14 , 45%; do điện giật hoặc bị điện cao áp phóng chiếm 9 , 40%; do tình trạng gặp mặt với chất độc hại hoặc phóng xạ chiếm 7 , 38%... Theo phân tích , đa số các vụ tai nạn lao dong là do người sử dụng lao động không đánh giá đúng nguy cơ tai nạn lao động tiềm tàng , không có đầy đủ báo cáo về hoàn cảnh lao động. Vì vậy thiếu cơ sở để xậy dựng kế hoạch bảo hộ lao động hàng năm cho người lao dong . Hưng thịnh trường hợp khác mặc dù ý thức được tầm quan yếu của công tác không có các mối nguy hiểm hoặc rủi ro vệ sinh lao dong nhưng lại không chấp hành đầy đủ các quy định luật pháp về không có các mối nguy hiểm hoặc rủi ro vệ sinh lao động ; không quan hoài cải thiện hoàn cảnh lao dong và chắc chắn môi trường làm việc không có các mối nguy hiểm hoặc rủi ro cho người lao động ; chưa có bộ máy giám sát người lao dong phục tòng các quy định bảo hộ lao động hoặc nếu có thì cũng chỉ mang tính hình thức , đối phó.Về phía người lao dong , việc thiếu ý thức bảo vệ mình và những người chung quanh , thường xuyên vi phạm các quy trình , phương pháp làm việc không có các mối nguy hiểm hoặc rủi ro cũng là những nguyên do làm tăng thêm số vụ tai tồi lao dong . Bên cạnh đó , do thiếu sự kiểm tra chặt , thường xuyên của cơ quan quản lý quốc gia nhằm kịp thời phát hiện và ngăn chặn các vụ tai nạn lao động tai hại cộng với chế tài xử phạt chưa đủ mạnh cũng dẫn tới tình trạng người sử dụng lao động và người lao động cố ý không phục tòng các quy định về không có các mối nguy hiểm hoặc rủi ro lao dong . Theo các chuyên gia lao dong , để giảm thiểu tai tồi lao dong , trước tiên cần sự chủ động , tự giác chấp hành các quy trình , phương pháp bảo hộ lao động của người lao động . Bên cạnh đó , cần tăng cường việc kiểm tra , giám sát của các cơ quan công năng trong việc thực hành các quy định công tác bảo hộ lao dong ; thường xuyên báo cáo các vụ tai nạn lao động , những nguy cơ tai nạn lao dong cho các doanh nghiệp và người lao động biết để có phương pháp phòng ngừa.Hải Yến
.